Lợi nhuận sau thuế Q2/2026 đạt 3.358 tỷ đồng (+28,9% YoY), kỷ lục cao nhất, nhưng phần lớn mức tăng (781 tỷ trong 940 tỷ) đến từ chênh lệch tỷ giá (vay ODA bằng Yên Nhật), không phải từ khai thác cảng; loại tỷ giá khỏi lợi nhuận trước thuế chỉ tăng khoảng 4%.
Doanh thu thuần đứng yên 6.324 tỷ đồng (−0,3% YoY) dù sản lượng hành khách tăng 6%, biên lãi gộp mở rộng lên 64,2% (từ 61,8%) nhờ giá vốn giảm 7%, song chất lượng doanh thu suy yếu (tốc độ tăng chậm dần: +16,8% → +7,7% → −0,3%).
Định giá hiện tại hấp dẫn: P/E ~13,0 lần (thấp hơn bình quân 20,8 lần giai đoạn 2023–2025), P/B ~2,0 lần (thấp hơn 3,3 lần), giá giảm 37% từ đỉnh 12 tháng, ROE trượt 12 tháng ở 16,1%.
Sân bay quốc tế Long Thành dự khai thác từ 01/12/2026 là động lực tăng trưởng trung–dài hạn; đã giải ngân 39.500 tỷ (94% chi phí xây dựng cơ bản dở dang 41.989 tỷ), nhà đầu tư có thể giải ngân và nắm giữ trung–dài hạn nhưng cần theo dõi tốc độ tăng doanh thu và mức khấu hao nhà ga mới.
Lưu ý
Doanh thu ngừng tăng dù sản lượng khách vẫn tăng, cho thấy sức mua theo lượt khách suy yếu
Phần lợi nhuận không thuộc cổ đông ACV tăng nhanh hơn lợi nhuận hợp nhất (655 tỷ Q2/2026, chiếm 19,5% LNST), hạn chế lợi nhuận thực thuộc cổ đông
Chất lượng phải thu yếu: phải thu khách hàng 7.454 tỷ đã trích dự phòng 3.809 tỷ (51%), số ngày phải thu 279 ngày cao hơn thông lệ
Chi phí khấu hao và chi phí vận hành sẽ tăng đáng kể từ 01/12/2026 khi Long Thành khai thác, gây áp lực lên lợi nhuận (kế hoạch LNTT 2026 giảm 47% so với 2025 chính vì lý do này)
Tỷ giá JPY/VND không ổn định, có thể đảo chiều bất kỳ lúc nào và ảnh hưởng đáng kể đến kết quả (lỗ 809 tỷ Q3/2024, lãi 750 tỷ Q4/2024, lỗ 739 tỷ Q2/2025, lãi 601 tỷ Q4/2025)
Dòng tiền tự do 2025 âm 12.799 tỷ, dòng tiền kinh doanh 6T/2026 chỉ 3.686 tỷ thấp hơn năm 2025
Hành khách quốc tế chỉ chiếm 40% tổng lượt, mức tăng 6% thấp hơn mục tiêu 10% năm 2026