NgànhNgân hàngQuan điểmTRUNG LẬP
Ưu tiênVCBCTGBIDVPBHDBMBB
Điểm nhấn- Lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt 95,7 nghìn tỷ đồng trong Q2/2026, tăng 27,6% svck và 20,3% so với quý trước, với VCB dẫn đầu (+58% svck), theo sau là CTG (+22% svck) và BID (+20% svck), nhờ thu nhập lãi thuần tích cực, thu nhập ngoài lãi cải thiện và chi phí tín dụng giảm
- Tăng trưởng tín dụng duy trì tích cực ở 9,1% lũy kế 6T2026 với nhóm NHTMCP ghi nhận mức cao nhất (VPB, HDB, TCB tăng 11-12% so với quý trước); NIM phục hồi lên 3,22% từ 3,04% trong Q1/2026 (+18 điểm cơ bản so với quý trước); thu nhập từ phí tăng mạnh 54,3% svck
- Hiệu quả hoạt động cải thiện với tỷ lệ CIR toàn ngành giảm xuống 28,2% từ 29,4% trong Q1/2026 do tăng trưởng chi phí hoạt động (+10,2% svck) thấp hơn so với tốc độ tăng tổng thu nhập hoạt động (+21,2% svck)
Lưu ý- Chất lượng tài sản suy yếu với tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97% từ 1,88% trong Q1/2026, là mức cao kỷ lục của quý 2 kể từ năm 2020; tỷ lệ nợ Nhóm 2 tăng lên 1,45% từ 1,30%
- Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 82,9% từ 86,0%, cho thấy bộ đệm dự phòng đang dần thu hẹp
- Áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu với tỷ lệ LDR toàn ngành ở mức cao 102,4%; chi phí huy động dự kiến duy trì ở mức cao trong các quý tới
- Tính bền vững của đà phục hồi NIM vẫn còn là dấu hỏi khi chi phí vốn tiếp tục được điều chỉnh tăng; nếu xu hướng tái định giá lãi suất kéo dài, chất lượng tài sản có thể sẽ dần suy yếu thông qua việc nợ xấu hình thành mới và chi phí tín dụng gia tăng
- Mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng