NgànhNgân hàngQuan điểmKHẢ QUAN
Điểm nhấn- Tăng trưởng doanh thu mạnh 48.5% YoY và lợi nhuận sau thuế 89.296 nghìn tỷ đồng tăng 25% YoY được hỗ trợ bởi tín dụng tăng 8.51% YTD đạt 15.4 triệu tỷ đồng và NII tiếp tục tăng từ mở rộng quy mô tài sản 22.6 triệu tỷ đồng tăng 6.7% YTD.
- Chính sách tiền tệ linh hoạt, đặc biệt QĐ 1743/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ tiền gửi KBNN kỳ hạn được tính vào LDR từ 20% lên 50% tạo dư địa tín dụng bổ sung, giảm áp lực huy động cho nhóm ngân hàng quốc doanh (VCB, BID, CTG) trong nửa cuối năm 2026.
- Dư nợ tín dụng tiếp tục được kỳ vọng tăng tốc trong Q3–Q4 nhờ nhu cầu vốn từ sản xuất kinh doanh, đầu tư công, hạ tầng, FDI và tiêu dùng; các ngân hàng có CASA cao, CAR tốt, chất lượng tài sản ổn định sẽ duy trì tăng trưởng tín dụng và kiểm soát chi phí vốn hiệu quả.
- Tăng vốn và hoàn thiện hệ sinh thái tài chính (ngân hàng – tài chính tiêu dùng – chứng khoán – bảo hiểm) tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, giúp các ngân hàng chuẩn bị cho yêu cầu Basel III và mở rộng nguồn thu ngoài lãi.
Lưu ý- Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao trong khi huy động vốn phục hồi chậm có thể khiến cạnh tranh tiền gửi tiếp tục gia tăng, đặc biệt tại các ngân hàng có LDR cao và phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường.
- Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục chịu áp lực giảm nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong khi chi phí vốn khó giảm tương ứng có thể khiến NIM duy trì ở mức thấp và phân hóa mạnh giữa các ngân hàng.
- Tốc độ tín dụng tăng nhanh hơn huy động có thể làm gia tăng áp lực thanh khoản và lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn cuối năm khi nhu cầu vốn thường tăng cao.
- Nợ xấu và nợ nhóm 2 có dấu hiệu gia tăng tại một số ngân hàng (nợ xấu tuyệt đối tăng 6% QoQ lên 309.6 nghìn tỷ), khiến chi phí dự phòng tiếp tục là yếu tố gây áp lực lên lợi nhuận.
- Các biến động về tỷ giá, lạm phát và môi trường lãi suất quốc tế có thể hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của NHNN trong thời gian tới.
- CAR suy giảm khi tín dụng và tổng tài sản mở rộng nhanh; nhóm ngân hàng quốc doanh có CAR thấp hơn (khoảng 8%) do quy mô tài sản có rủi ro lớn và tốc độ bổ sung vốn chưa theo kịp.