NgànhNgân hàngQuan điểmTRUNG LẬP
Điểm nhấn- Tín dụng toàn hệ thống 6T2026 tăng 8,37% so với năm 2025, dự phóng cả năm đạt 14,5% với sự phân hóa rõ nét: VPB (+23,2%), HDB (+21,8%), TCB (+15,2%), MBB (+13,2%) dẫn dắt, trong khi ngân hàng quốc doanh chỉ quanh 5% — động lực từ nhóm NHTM tư nhân mạnh mẽ
- Chất lượng tài sản được kiểm soát với NPL ở 2,01% và nợ xấu phát sinh mới quý 2/2026 giảm 9,7% xuống 48,7 nghìn tỷ đồng, tốc độ hình thành nợ xấu mới (0,31%) tương đương mức Q4/2025 — áp lực lạm phát cao (CPI 8T2026 +4,45%, CPI cơ bản +4,24%) và triển vọng lãi suất tại các nước lớn vẫn là rủi ro
- Lợi nhuận quý 2/2026 tăng 24,5%, lũy kế 6T2026 tăng 19,6%, với thu nhập lãi thuần tăng 16,6%, thu dịch vụ thuần tăng 57,5% — dự báo tăng trưởng lợi nhuận cả năm 15,8% với P/B trung bình ở mức 1,48x, thấp hơn một số nhóm ngành nhưng tăng trưởng NII phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng
- Tiền gửi hệ thống tăng 5,0%, trong khi tín dụng tăng 8,4% khiến chênh lệch mở rộng 3,4%p; tiền gửi cá nhân tăng 7,1% vượt xa tiền gửi doanh nghiệp (3,1%) — NIM dần ổn định nhưng chênh lệch huy động-cho vay vẫn tạo sức ép lên biên lợi suất tại một số ngân hàng, lãi suất cho vay trung bình tăng quanh 220đcb so với mức thấp giữa 2025
Lưu ý- Lạm phát duy trì ở mức cao có thể khiến nhà điều hành cẩn trọng hơn trong định mức tăng trưởng tín dụng
- Áp lực huy động vẫn chưa cho thấy cải thiện rõ nét; mặtbằng lãi suất nội địa vẫn có rủi ro tăng
- Rủi ro tỷ giá quay trở lại khi các NHTW lớn có khả năng tạm hoãn hay đảo chiều quá trình nới lỏng
- Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp tăng 6,8% tổng tín dụng, lợi suất trái phiếu NHTM tăng từ ~6% năm 2025 lên ~8,5% hiện tại
- Thị trường BĐS tiếp tục trầm lắng với số lượng giao dịch Q2/2026 giảm 28,5% so với Q1 và 36,3% so với cùng kỳ; giá vẫn neo ở vùng cao
- Nợ xấu phát sinh mới có độtrễ từ các đợt tăng lãi suất trước đó; áp lực có thể tiếp tục nếu lãi suất tăng thêm
- Áp lực tríchcập dự phòng tại các ngân hàng có dư nợ liên quan BĐS cao