LNTT Q2/26 tăng 57.9% lên 17,420 tỷ đồng nhờ TNLT tăng 35.2% khi NIM phục hồi lên 3.0% (tăng 0.33 điểm % svck) do lợi suất cho vay cải thiện 1.51 điểm % svck và VCB tối ưu cơ cấu danh mục cho vay, chuyển sang khoản vay kỳ hạn dài hơn.
TNNL tăng 95.0% svck trong Q2/26 nhờ thu nhập khác ròng bứt phá, ghi nhận khoản lãi một lần khoảng 3,000 tỷ đồng từ đánh giá lại tài sản; loại trừ khoản thu nhập một lần, TNNL vẫn phục hồi nhẹ nhờ thu nhập từ ngoại hối tăng 5.0% và phí dịch vụ tăng 8.2% svck.
LNTT 6T26 đạt 29,222 tỷ đồng, tăng 33.5% svck, hoàn thành 54% dự phóng cả năm và 56.7% so với kỳ vọng thị trường; CIR cải thiện xuống 32.0% trong Q2/26 (từ 33.7% trong Q2/25) và 32.2% lũy kế 6T26 do tổng TNHĐ tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.
Chất lượng tài sản dẫn đầu ngành với tỷ lệ nợ xấu 0.61% (giảm 39 điểm cơ bản svck), nợ nhóm 2 thấp 0.25%, và tỷ lệ bao phủ nợ xấu 279.3% (từ 253.4% Q1/26) là mức cao nhất trong nhóm ngân hàng niêm yết; chi phí dự phòng giảm 37.9% svck Q2/26.
Lưu ý
Tăng trưởng tín dụng 6T26 đạt 5.1% sv đầu năm, thấp hơn tốc độ tăng của toàn hệ thống.
Cho vay bán lẻ tăng ở mức vừa phải do cho vay mua nhà chậm lại và cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của cá nhân còn yếu.
Chi phí dự phòng lũy kế 6T26 vẫn tăng 91.8% svck do VCB đã chủ động trích lập mạnh trong Q1/26.
Khoản lãi một lần khoảng 3,000 tỷ đồng từ đánh giá lại tài sản trong Q2/26 là yếu tố đẩy mạnh TNNL nhưng không bền vững, loại trừ phục hồi chỉ nhẹ nhàng.