Định giá hấp dẫn: P/B hiện tại 1,92 lần thấp nhất 10 quý gần nhất (bình quân 3,21 lần), rẻ hơn 12% khi quy về từng điểm ROE so với bình quân lịch sử, và rẻ hơn 42% so với ROE dự phóng 2026 là 13,4%. Khoản đầu tư vào liên doanh liên kết 24.049 tỷ đồng (chủ yếu VSIP) chiếm 57% vốn hóa 42.021 tỷ đồng, thể hiện tiềm lực tài sản.
Nửa cuối năm là mùa bàn giao trọng điểm: Quý 4/2023 và Quý 4/2024 lần lượt chiếm 89% và 68% lợi nhuận cả năm. TCBS ước tính nửa cuối năm đạt 2.932 tỷ đồng, gấp 9,6 lần nửa đầu, hàm ý LNST cổ đông mẹ năm 2026 khoảng 3.237 tỷ đồng (tương ứng EPS 3.127 đồng và P/E dự phóng 13,0 lần).
Lợi nhuận từ liên doanh liên kết ổn định: Lãi chia từ VSIP và các liên doanh khác đạt 525 tỷ đồng Q2, chỉ giảm 3,5% YoY, là nguồn lãi đều đặn nhất. Quỹ đất mới tại Cây Trường và Bàu Bàng bắt đầu đóng góp, mở rộng tiềm lực tăng trưởng trung và dài hạn.
Lưu ý
Dòng tiền kinh doanh sâu âm: 6 tháng âm 1.791 tỷ đồng, phải bù bằng vay ròng 2.346 tỷ đồng
Đòn bẩy nợ vay cao: Tổng nợ vay 26.334 tỷ đồng bằng 117% vốn chủ sở hữu, với tiền và đầu tư ngắn hạn chỉ 2.139 tỷ đồng
Chi phí lãi vay tăng mạnh: 539 tỷ đồng Q2 (+45,9% YoY), cao nhất kể từ khi niêm yết, gần bằng toàn bộ lợi nhuận gộp của quý. Lãi suất tính trên dư nợ bình quân quy về năm lên khoảng 8,3% so với 6,5% Q2/2025
Lợi nhuận phụ thuộc vào liên doanh: Phần hoạt động hợp nhất lỗ trước thuế 324 tỷ đồng Q2, lợi nhuận toàn tập đoàn 201 tỷ đồng đến từ lãi liên doanh 525 tỷ đồng (ghi nhận trên sổ nhưng tiền chỉ về khi VSIP chia cổ tức)
Tiến độ kế hoạch năm còn rất xa: Lũy kế 6 tháng đạt 321 tỷ đồng trên kế hoạch 3.883 tỷ đồng (chỉ 8,3%), phụ thuộc vào diện tích bàn giao thực tế nửa cuối năm và lãi chia từ VSIP
Hàng tồn kho quay vòng cực chậm: 22.829 tỷ đồng (chiếm 36,5% tổng tài sản), chủ yếu chi phí đền bù và hạ tầng chưa bàn giao, số ngày tồn kho vượt 5.600 ngày