NIM hợp nhất phục hồi 22bps QoQ lên 2,12% trong 2Q26, với thu nhập lãi thuần tăng 19% YoY lên 17.804 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi tín dụng hợp nhất tăng 14,7% YoY và tái định giá danh mục cho vay mua bất động sản khoảng 345.000 tỷ đồng với dư địa repricing lớn (~36% áp dụng lãi suất thả nổi).
LNST cổ đông công ty mẹ 2026F dự phóng điều chỉnh giảm 7% về 32.087 tỷ đồng do thu nhập ngoài lãi giảm 21%, nhưng tăng trưởng 7% YoY với EPS 3.911 đồng vẫn hỗ trợ ROAE 17,1% cao hơn các ngân hàng khác trong ngành, định giá P/B 1,28x và P/E 9,29x thấp nhất nhóm so với VCB.
Chất lượng tài sản là điểm nghẽn khi quy mô nợ xấu tăng lên 45.719 tỷ đồng (tỷ lệ NPL 1,83%), tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm mạnh về 76% từ 87% cuối 1Q26 — mức thấp nhất từ 2020 — do kiểm soát chi phí dự phòng hỗ trợ lợi nhuận thay vì cải thiện chất lượng tài sản.
Định giá P/B 1,4x hiện neo sát vùng đáy từ 2018 và thấp hơn gần 2 độ lệch chuẩn so với trung bình 5 năm (2,0x), nhưng chưa phản ánh đầy đủ vị thế đầu ngành về quy mô tài sản, tín dụng và huy động khi BID giao dịch tại P/B cao thứ hai nhóm ngân hàng (chỉ sau VCB) và nằm sát đường xu hướng tương quan ROE–P/B toàn ngành.
Lưu ý
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) mỏng dần đến 86% cuối 2026F, mức thấp hơn 100%, là rủi ro cho bộ đệm dự phòng trong 2027.
Nợ xấu hình thành ròng duy trì ở mức cao 11.248 tỷ đồng trong 2Q26 (ngang 1Q26) khi điều kiện thị trường bất lợi ở một số ngành như bán lẻ, thủy điện.
Chi phí huy động cao hơn dự kiến, tăng 60bps QoQ và kéo chi phí vốn bình quân lên 4,06%, áp lực lên NIM khi chỉ phục hồi từ từ do NHNN và Chính phủ liên tục chỉ đạo giảm lãi suất.
Dự phóng NIM 2026F hạ 14bps về 2,16% do chi phí vốn tăng 11bps, phản ánh khó khăn trong quá trình phục hồi lợi nhuận từ lãi suất khi các ngân hàng bắt đầu hành động (VD: BIDV chào gói tín dụng 50.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn ~1%).