NIM bị áp lực giảm 18 bps xuống 3,04% cho năm 2026F do quy mô tái định giá nợ lớn hơn tài sản trong 3-6 tháng tới, hạn chế khả năng sinh lợi; dự phóng LNTT 2026F giảm 13% so với ước tính cũ xuống 7,7 nghìn tỷ đồng (+10% YoY) vì tín dụng hợp nhất đã sử dụng hết hạn mức đầu năm trong Q2/26
Thu nhập ngoài lãi sụt giảm mạnh trong Q2/26 (thấp hơn 36% dự phóng), chủ yếu do hoạt động kinh doanh ngoại hối đảo chều sang lỗ (-34 tỷ đồng) và thu phí thanh toán/L/C giảm 13% QoQ, điều chỉnh hạ dự phóng năm xuống 16%
ROE sụt giảm xuống 13,6% (giảm 60 bps so với quý trước và dự phóng cũ) và chất lượng tài sản chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt — nợ xấu hình thành ròng vẫn duy trì ở mức 0,9%, nợ xấu tại TNEX tăng lên 10,4%, chi phí trích lập dự phòng cao hơn 10% so với quý trước
LNTT Q2/26 chỉ đạt 1,532 nghìn tỷ đồng (-19% QoQ, -1% YoY, thấp hơn 20% kỳ vọng) do thu nhập ngoài lãi kém, tuy lũy kế 1H2026 là 3,4 nghìn tỷ đồng (+8% YoY) nhưng chỉ hoàn thành 39% dự phóng cả năm vì khoản thu hồi ~1 nghìn tỷ đồng từ hợp đồng bán nợ được ghi nhận vào Q4/26
Lưu ý
NIM tiếp tục bị áp lực từ cạnh tranh huy động, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn tăng 12,6% YTD làm cơ cấu nguồn vốn kém thuận lợi
Tỷ lệ LDR tăng lên 66,8% (từ 62,9%), CASA giảm xuống 23,1% (từ 26,5%), tăng áp lực tái định giá nợ và tài sản không cân xứng
Diễn biến nợ xấu hình thành ròng chưa có dấu hiệu cải thiện, duy trì ngang quý trước, rủi ro chất lượng tài sản từ ngân hàng mẹ vẫn tiềm ẩn
Thu nhập ngoài lãi kém khả quan, chủ yếu do phí thanh toán và L/C sụt giảm mạnh, hoạt động kinh doanh ngoại hối khó dự đoán
Tín dụng đã sử dụng hết hạn mức trong Q2/26, tăng trưởng tín dụng Q3/26F dự báo đi ngang, hạn chế động lực tăng trưởng
CIR tăng lên 35,2% (+277 bps so với dự phóng cũ), chi phí hoạt động tăng áp lực từ nhân sự và quản lý công vụ