Doanh thu Quý 2 tăng 23,7% YoY lên 3.028 tỷ nhờ mở rộng đội giàn: 5,91 giàn tự nâng hoạt động bình quân tăng từ 3,67; EBITDA tăng 25,7% YoY với biên 20,7% phản ánh khả năng vận hành ổn định.
Nền việc dày đặc với 4.015 ngày hợp đồng còn phải thực hiện và hiệu suất đội giàn trên 99%; giàn thứ tám đang được tái kích hoạt, sẵn sàng vận hành thương mại từ Quý 2/2027, mở rộng tiếp năng lực trong giai đoạn khu vực hồi phục.
Dự phóng 2026: doanh thu 13.512 tỷ (tăng 24,0%) với EBITDA 2.536 tỷ; ban lãnh đạo kỳ vọng lợi nhuận phục hồi từ Quý 4 khi hoàn tất dự án Sông Đốc.
Định giá P/E 14,8 lần tương đối cao phản ánh áp lực khấu hao và lãi vay từ chu kỳ đầu tư, nhưng giá thị trường 17.750 đồng (06/08/2026) chưa phản ánh trọn rủi ro khoảng hở lịch khoan Quý 3.
Lưu ý
Lợi nhuận Quý 2 giảm 32,2% YoY xuống 163 tỷ (thấp nhất 5 quý) do khấu hao tăng vượt từ giàn PV DRILLING IX và chi phí lãi vay gấp 2,4 lần cùng kỳ; nước ròng 111 tỷ lãi vay so 47 tỷ cùng kỳ
Giá thuê ngày khu vực đi xuống: 95.100 USD/ngày (Quý 2/2026) giảm 9% YoY và 7% QoQ do khoan Trung Đông trì hoãn; rủi ro khi tái ký hợp đồng nếu mặt bằng vẫn yếu
Khoảng hở lịch khoan gần: PV DRILLING IX hết hợp đồng tháng 7/2026, hợp đồng kế tiếp chỉ khởi động tháng 10; PV DRILLING VI chờ sang tháng 8; rủi ro ngắn từ chi phí cố định phát sinh trong khoảng không làm việc
Dòng tiền lũy kế 6 tháng âm 151 tỷ (so dương 14 tỷ cùng kỳ 2025) do phải thu ngắn hạn tăng 34,1% YoY lên 5.784 tỷ (158 ngày doanh thu); áp lực vốn lưu động khi tiếp tục mở rộng đội giàn
Đòn bẩy tài chính tăng: nợ vay 5.474 tỷ (+76,0% YoY), tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu lên 31,1% từ 18,6%; khả năng trả lãi giảm từ 6,6 xuống 2,8 lần so cùng kỳ
Kế hoạch 2026 thấp: 800 tỷ LNST (giảm 24% so 2025) và 11.185 tỷ doanh thu (giảm 3% so 2025); dự phóng LNST 2026 chỉ 990 tỷ (−4,7% YoY) cho thấy lợi nhuận đi lùi dù doanh thu tăng do áp lực khấu hao và lãi vay từ chu kỳ đầu tư chưa dừng