NgànhNgân hàngQuan điểmTRUNG LẬP
Điểm nhấn- Lợi nhuận toàn ngành tăng 14% YoY nhưng tăng trưởng phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng: CTG nổi bật +63.3% YoY nhờ giảm chi phí dự phòng và cải thiện CIR, MBB và TCB tăng lần lượt ~25% và 22.6% YoY
- Tín dụng tăng 3.58% YTD trong Q1/2026 nhanh hơn huy động (+0.6%), gây áp lực lên thanh khoản, chi phí vốn (COF) và biên lãi ròng (NIM); dây chuyền tính chất lượng tăng trưởng đang suy giảm vì NII chỉ tăng 16.6% YoY, thấp hơn tăng trưởng cho vay 18.46% YoY
- Mặt bằng lãi suất huy động tăng trong Q1/2026, chỉ hạ từ tháng 4 theo định hướng ổn định của NHNN; dư địa giảm COF ngắn hạn vẫn hạn chế, NIM chỉ có cơ sở cải thiện rõ từ cuối 2026 khi funding ổn định hơn
- Dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019 nâng chuẩn an toàn hệ thống qua LCR, NSFR, LEV và CDR mới, làm gia tăng phân hóa giữa các ngân hàng; nhóm có CASA tốt, funding ổn định, vốn cấp 1 dày sẽ có lợi thế tương đối
Lưu ý- Tín dụng tăng nhanh hơn huy động làm gia tăng áp lực thanh khoản (LDR/CDR), buộc ngân hàng cạnh tranh huy động, tăng COF và hạn chế phục hồi NIM
- Chi phí vốn (COF) chịu áp lực từ cạnh tranh huy động có kỳ hạn mạnh, đặc biệt ở nhóm ngân hàng tư nhân: HDB, VPB, MBB, TCB, VIB, SHB tăng lãi suất huy động mạnh
- Chất lượng tài sản vẫn chịu áp lực: nợ xấu tuyệt đối tiếp tục tăng (nợ có khả năng mất vốn), tỷ lệ bao phủ toàn ngành chỉ ~80% nhóm 3–5 hoặc 60–65% tính cả nhóm 2, bộ đệm chưa dày
- Dự thảo Thông tư 22 sẽ tạo ràng buộc mới với LCR, NSFR, LEV làm giảm lợi suất tài sản sinh lãi, hạn chế tăng trưởng tín dụng trung dài hạn; 6 ngân hàng có nguy cơ vượt giới hạn CDR mới
- Biến số vĩ mô như tình hình chiến sự kéo dài, lạm phát, tỷ giá có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản và định hướng tăng trưởng tín dụng của NHNN