NgànhNgân hàngQuan điểmTÍCH CỰC
Điểm nhấn- Thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng doanh thu ngành với mức 16,6% svck trong Q1/2026, chủ yếu hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng vượt trội, mặc dù tốc độ tăng chậm lại xuống 3,18% so với năm trước nhằm kiểm soát thanh khoản theo định hướng của NHNN
- Tăng trưởng tín dụng duy trì tích cực với động lực dịch chuyển từ 'phục hồi' sang 'đầu tư', hỗ trợ bởi các chính sách điều hành như Thông tư 08/2026 giảm áp lực LDR khoảng 1,1–1,3 điểm% cho nhóm quốc doanh, và các quy định loại trừ dư nợ cho vay nhà ở xã hội cùng các dự án PPP khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng
- Lợi nhuận toàn ngành kỳ vọng tăng +18,1% svck trong năm 2026 nhờ cải thiện thu nhập lãi thuần trên nền tín dụng tăng mạnh năm 2025 và giảm tỷ lệ CIR; VCB, BID, MBB, TCB có nhiều lợi thế để duy trì tăng trưởng lợi nhuận vượt mặt bằng chung với nền tảng huy động vững chắc, chất lượng tài sản tốt, bộ đệm dự phòng cao
- NIM chịu áp lực thu hẹp -27 bps svck xuống 2,95% do tăng trưởng tín dụng vượt huy động buộc sử dụng nguồn vốn đắt hơn, tuy nhiên các ngân hàng có CASA cao, tỷ trọng bán lẻ lớn như VCB, BID, MBB sẽ có mức cải thiện NIM rõ nét hơn so với mặt bằng chung
Lưu ý- Tăng trưởng tín dụng thấp hơn kỳ vọng nếu NHNN tiếp tục siết chặt các quy định liên quan đến thanh khoản và tăng trưởng tín dụng
- NIM tiếp tục thu hẹp nhanh hơn dự báo khi tỷ lệ LDR gia tăng (hiện tại 115%, cao hơn 109% cuối năm 2025), buộc phải sử dụng thêm nguồn vốn có chi phí cao
- Chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm: tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng lên 1,23% (+8 bps QoQ), cho thấy rủi ro hình thành nợ xấu mới vẫn hiện hữu, và tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đạt 2,0% (tăng 15 bps YTD)
- Một số ngân hàng tư nhân nhỏ như VPB, OCB, EIB có tỷ lệ bao phủ nợ xấu dưới 60% và NPL trên 3%, khả năng hấp thụ rủi ro tín dụng hạn chế
- Thu nhập ngoài lãi suy giảm đáng kể: lãi từ hoạt động đầu tư chứng khoán giảm mạnh (-92,1% svck lãi mua bán chứng khoán đầu tư, -91,2% svck chứng khoán kinh doanh), và lãi ngoại hối giảm -13,1% svck