NgànhNgân hàngQuan điểmKHẢ QUAN
Điểm nhấn- Tăng trưởng tín dụng toàn ngành dự kiến đạt 16% - 18%, chủ yếu từ phân khúc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tạo nền tảng cho lợi nhuận ngành tăng 13.6% YoY lên 77.338 nghìn tỷ đồng trong Q1/2026
- Basel III và dự thảo sửa đổi TT22 sẽ thúc đẩy hệ thống chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng an toàn và bền vững; nhóm ngân hàng có CASA cao, thanh khoản mạnh và bộ đệm vốn tốt sẽ có lợi thế rõ rệt để duy trì tăng trưởng trong trung dài hạn
- Xu hướng phân hóa mạnh mẽ giữa các nhóm ngân hàng: Top 6 ngân hàng lớn (VCB, BID, CTG, TCB, MBB, VPB) đóng góp 61.2% tổng lợi nhuận toàn ngành, với ROE/ROA cao nhất 17.3% / 1.2% tại nhóm quốc doanh và nhóm NHTM cỡ trung; nhóm ngân hàng có hệ sinh thái mạnh tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh
Lưu ý- Tăng trưởng tín dụng cao (14.6 triệu tỷ đồng, +2.7% YTD) vượt xa huy động (15.92 triệu tỷ đồng, +19% YoY) khiến LDR duy trì ở mức 86%, tạo áp lực thanh khoản hệ thống gia tăng và lãi suất liên ngân hàng vọt lên trên 17%/năm
- Biên lãi ròng (NIM) ngành đang thu hẹp do chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản; định hướng duy trì mặt bằng lãi suất huy động thấp để hỗ trợ kinh tế khiến nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình chịu áp lực lớn lên khả năng sinh lời
- Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 2.58% trong Q1/2026; tốc độ tăng dự phòng rủi ro không theo kịp đà tăng nợ xấu khiến tỷ lệ LLR giảm từ 83% xuống 77%; áp lực chủ yếu từ nhóm khách hàng bất động sản, SME và tiêu dùng cá nhân
- Siết chỉ tiêu thanh khoản Basel III (LCR từ 70% năm 2028 lên 100% năm 2031; NSFR từ 90% năm 2028 lên 100% năm 2030) buộc hệ thống gia tăng tốc độ cải thiện cấu trúc nguồn vốn; việc giảm tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào LDR (còn 20%) tạo áp lực lớn lên huy động vốn, đặc biệt nhóm Big4
- Dự thảo CDR thay thế LDR sẽ tạo áp lực lớn lên nhóm ngân hàng phụ thuộc vốn liên ngân hàng và thị trường 2; mẫu số CDR giảm khoảng 22% khiến các ngân hàng phải tái cơ cấu lại nguồn vốn trong trung hạn