NgànhNgân hàngQuan điểmTRUNG LẬP
Điểm nhấn- Lợi nhuận ngành tăng trưởng 14,2% svck Q1/26 dù tín dụng tăng 19% svck vì các ngân hàng quốc doanh (VCB, CTG) và các ngân hàng được cấp room tín dụng cao (MBB, VPB, HDB) hưởng lợi từ tái cơ cấu ngân hàng yếu kém; tăng trưởng lợi nhuận chậm lại xuống 18,7% svck năm 2026F so với mức 22% năm 2025 do các ngân hàng khó khăn khoá lợi nhuận bất thường từ thu hồi nợ ngoại bảng như Q4/25.
- NIM hẹp xuống 3,0% (giảm 22 bps svqq) vì lãi suất huy động tăng mạnh ~2% kể từ cuối Q3/25 nhưng lãi suất cho vay chỉ tăng ~9 bps svqq do các khoản vay ưu đãi năm 2024-25 vẫn còn tác động; tuy nhiên, các ngân hàng quốc doanh có triển vọng cải thiện NIM trong 2026F nhờ lãi suất cho vay nhiều dư địa tăng, trong khi chi phí vốn được kiểm soát tốt hơn nhóm ngân hàng tư nhân.
- Tỷ lệ CIR tiếp tục xu hướng giảm xuống 29,8% từ mức trên 40% trước Covid-19, giúp các ngân hàng duy trì tăng trưởng lợi nhuận; chi phí hoạt động dự báo tăng 11,1% svck năm 2026 với tỷ lệ CIR giảm 3% xuống 28,3%.
- P/E ngành ở mức 10,8 lần thấp hơn 10% so với trung vị lịch sử, với triển vọng tăng trưởng lợi nhuận khoảng 15%, vùng giá hiện tại hấp dẫn cho đầu tư trung và dài hạn, đặc biệt khi so sánh với các thị trường khu vực (Indonesia 12,0 lần, Malaysia 14,6 lần, Singapore 14,1 lần).
Lưu ý- NIM tiếp tục hẹp do lãi suất huy động duy trì ở mức cao trong năm 2026 khi nhu cầu FDI/FII có thể hạn chế
- Chất lượng tài sản suy giảm nhẹ với tỷ lệ nợ xấu tăng 15 bps svqq lên 2%, tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng 8 bps lên 1,23%, áp lực từ thị trường BĐS đang điều chỉnh
- Tín dụng chậm lại về mức 15% (mục tiêu NHNN), từ mức tăng 19,1% năm 2025, room tín dụng bị hạn chế đặc biệt đối với lĩnh vực BĐS
- Thanh khoản liên ngân hàng tiếp tục đối mặt khó khăn, tỷ lệ LDR thuần dự báo tăng nhẹ, lãi suất liên ngân hàng tăng hơn 2% kể từ cuối Q3/25
- Tỷ lệ CASA giảm xuống 20,8% do tỷ trọng sử dụng tiền mặt cao hơn và lãi suất không còn thấp, áp lực lên chi phí vốn các ngân hàng có CASA cao như VCB, MBB, TCB
- Rủi ro từ biến động địa chính trị toàn cầu ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất VND và dòng vốn ngoại