Biên lãi ròng phục hồi mạnh: NIM quý 2 tăng từ đáy 1,96% lên 2,18% (+22 bps QoQ) do tài sản định giá lại nhanh hơn nguồn vốn, với lãi suất cho vay bình quân tăng 0,77 điểm (so với chi phí tiền gửi chỉ 0,63 điểm); thu nhập lãi thuần đóng góp +2.812 tỷ trong mức tăng lợi nhuận quý.
Kiểm soát chi phí xuất sắc: Chi phí hoạt động chỉ tăng 1,6% trong khi tổng thu nhập tăng 7,0%, đưa CIR xuống 31,7% — mức thấp nhất tám quý; hiệu quả vận hành cải thiện bền vững nhờ thu nhập lãi tăng nhanh hơn chi phí.
Dư địa tăng trưởng nửa cuối năm từ chính sách nới lỏng: Hạn mức tín dụng thường được nới về cuối năm; từ 01/08/2026, quy định cho phép tính 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc vào nguồn huy động (thay vì 20%), mở thêm khoảng 55.000 tỷ dư địa cho vay; TCBS dự phóng lợi nhuận trước thuế 42.771 tỷ năm 2026 (+13,2% YoY), đã hoàn thành 44,2% sau sáu tháng.
Định giá hấp dẫn: Cổ phiếu giao dịch ở P/B 1,43 lần — mức thấp nhất năm năm (so với bình quân 1,96 lần) và thấp hơn trung vị nhóm 1,31 lần, dù ROE 17,2% chỉ đứng thứ tư; vùng định giá này giới hạn rủi ro giảm giá.
Lưu ý
Chất lượng tài sản: Nợ xấu lên 1,83% dư nợ giữa năm, bao phủ nợ xấu giảm xuống 75,9% — mức thấp nhất nhóm Big-4 (VCB: 279%, CTG: 134%); để khôi phục bao phủ trên 100%, BIDV phải trích lập cao hơn, kìm tăng trưởng lợi nhuận nửa cuối năm.
Áp lực thanh khoản: Tiền gửi khách hàng chỉ tăng 1,7% ytd so với dư nợ tăng 5,4%, buộc phụ thuộc vào giấy tờ có giá (tăng 33,9%, chi phí lãi +69,7%); tỷ lệ cho vay/tiền gửi tăng lên 110,6%.
Thu nhập ngoài lãi yếu: Lãi thuần kinh doanh ngoại hối giảm 47,8% và lãi mua bán chứng khoán giảm 81,9% YoY trên nền so sánh cao; chiếm phần nhỏ kế hoạch nhưng chỉ ra tính dễ biến động của khoản mục này.
Biên lãi có thể chỉ cải thiện nhẹ về sau: Hiệu ứng tái định giá tài sản so với nguồn vốn (60,6% dư nợ là cho vay ngắn hạn) sẽ giảm tốc khi kỳ hạn hợp đồng định giá lại cân bằng; nợ xấu xử lý cuối năm có thể cải thiện lợi suất tài sản sinh lời thêm.