POW tiên phong phát triển nguồn điện khí LNG thay thế điện than trong dài hạn, với triển vọng ngành tích cực khi Bộ Công Thương hoàn thiện cơ chế tháo gỡ, nổi bật đề xuất nâng tỷ lệ bao tiêu từ 65% lên 75% trong 10 năm đầu; sau Nhơn Trạch 3&4 vừa đi vào vận hành 2026, POW theo đuổi nhiều dự án khí LNG lớn khác bao gồm Quảng Ninh (1,500MW), Quỳnh Lập (1,500MW) trước 2031, và Cà Mau 3, Nhơn Trạch 5.
Môi trường huy động cải thiện rõ rệt, các nhà máy được phân bổ Qc theo chu kỳ 6 tháng với mức tối thiểu 48% cho điện khí nội và 65% cho LNG; trong 2024-25, tài chính EVN cải thiện nhờ tăng giá điện, hỗ trợ môi trường huy động ổn định và thuận lợi.
Nhơn Trạch 3&4 đóng góp chính cho tăng trưởng: doanh thu và lợi nhuận ròng 2026-27 tăng 52% và 170% svck Q1/26; doanh thu 2026 tăng 53% svck, lợi nhuận ròng duy trì tăng 5% svck do Nhơn Trạch 3&4 được giao Qc cao (~65%) trong khi huy động thực tế chỉ 61%, được bù doanh thu Qc giúp biên lợi nhuận gộp cải thiện mạnh.
POW đang giao dịch EV/EBITDA 7.4x, thấp hơn trung bình ngành 9.7x; EPS 2026-27 điều chỉnh tăng 26%/21% so dự phóng trước; tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng ước đạt 27% CAGR và 15% CAGR 2026-27, với nhu cầu tiêu thụ điện kỳ vọng tăng trên 10% từ 2026-2030.
Lưu ý
Rủi ro giao Qc thấp hơn dự kiến trong 6 tháng cuối năm 2026, ảnh hưởng đến doanh thu và biên lợi nhuận gộp
Rủi ro thiếu hụt khí từ các nguồn khí nội địa cũng như gián đoạn nguồn cung; rủi ro tăng mạnh giá đầu vào khí LNG nếu chiến tranh Mỹ - Iran kéo dài
Yếu tố khó đoán định: lệch pha lớn giữa giao Qc so với huy động thực tế dẫn đến biên lợi nhuận gộp có mức tăng trưởng đột biến; trong bối cảnh giao Qc cao như 2025-26, yếu tố bù Qc có thể tiếp tục xảy ra