Chi phí đầu tư của Nhơn Trạch 3&4 thấp hơn dự toán 700 tỷ đồng (tổng chi phí chỉ 29 nghìn tỷ đồng thay vì 32 nghìn tỷ đồng), tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội về chi phí và khấu hao thấp hơn dự kiến 6%, hỗ trợ LNST cao hơn 14%
LNST báo cáo năm 2026 dự phóng tăng 32% YoY chủ yếu nhờ khoản thanh toán lỗ tỷ giá 1,6 nghìn tỷ đồng từ EVN (chiếm 30%) và khoản thanh toán 381 tỷ đồng chi phí O&M Cà Mau, trong khi LNST cốt lõi tăng 3% YoY; năm 2027 LNST tăng 32% YoY và cốt lõi tăng 34% YoY nhờ hiệu ứng El Nino
Định giá hấp dẫn với P/E dự phóng 2026 là 14,7 lần (hệ số PEG 0,7 dựa trên CAGR EPS 2026-30 là 22%); CAGR EPS mạnh chủ yếu từ Nhơn Trạch 3&4 với LNST ước tính 1,6 nghìn tỷ đồng vào năm 2030 so với mức lỗ năm 2026, giá mục tiêu tăng 7,8% từ cơ sở dự phóng LNST giai đoạn 2026-2030 tăng 9,4%
POW là nhà sản xuất điện thứ ba Việt Nam với công suất 5.800 MW (7% tổng công suất quốc gia); danh mục dự án mở rộng lớn hướng tới công suất 7.500 MW vào 2030 và 25.900 MW vào 2050, tập trung vào LNG (Quỳnh Lập, Vũng Áng III, Quảng Ninh) và thủy điện Lâm Sơn
Lưu ý
Rủi ro tỷ giá USD/VND tăng mạnh hơn dự kiến
Sản lượng điện thương phẩm của Nhơn Trạch 3&4 năm 2026 chỉ chiếm 28% dự báo cả năm trong 4 tháng đầu năm; nếu sản lượng thấp hơn dự kiến, nhà máy có thể không ghi nhận lỗ năm 2026
Giá LNG cao làm hạn chế sản lượng của NT2 khi giá thị trường thấp hơn chi phí phát điện
Tiến độ các dự án mở rộng (Quỳnh Lập, Vũng Áng III, Quảng Ninh, Cà Mau 3, Lâm Sơn) còn nhiều bất định; các dự án nước ngoài tại Lào gặp rủi ro chính trị và pháp lý
Phụ thuộc vào nguồn cung khí cho Cà Mau; kế hoạch mua khí từ Lô B, mỏ Nam Du – U Minh, mỏ Khánh Mỹ – Đầm Dơi chưa chắc chắn hoàn toàn