Xu hướng xuất khẩu cá tra phục hồi rõ nét tại thị trường Mỹ, sản lượng Q4/2026 tăng +22,3% YoY và +24% MoM nhờ nhu cầu cải thiện; thị trường Mỹ đặc biệt mạnh với sản lượng tăng +7% YoY lên 5,63 nghìn tấn và ASP tăng +20% YoY lên 3,2 nghìn USD/tấn do hiệu ứng front-loading từ nhà nhập khẩu Mỹ tích trữ hàng khi thuế tạm thời ở mức 10% theo Section 122.
Biên lợi nhuận gộp cải thiện từ 12,7% lên 14,6% (+1,9 đpt) nhờ chiến lược dịch chuyển xuất khẩu sang các thị trường giá trị cao hơn và kiểm soát chi phí SG&A tốt; dự phóng 2026F nâng lên 1,594 tỷ đồng (+5% so với dự phóng cũ, +13% YoY).
Áp lực chi phí nguyên liệu và logistics được kiểm soát nhờ tỷ lệ tự chủ nguyên liệu cao khoảng 70-75% giúp giảm áp lực từ biến động giá cá ngoài, đồng thời khả năng cải thiện ASP tại các thị trường có mặt bằng giá cao bù được phần nào chi phí đầu vào tăng.
Cổ phiếu đã chiết khấu khoảng -10% so với thời điểm khuyến nghị THEO DÕI trước đó; ở mức giá mục tiêu giao dịch tại P/E FW2026 là 8,1x, chiết khấu khoảng -23% so với mức P/E trung bình ngành 10,0x.
Lưu ý
Rủi ro thuế quan từ Mỹ: USTR đề xuất mức thuế bổ sung 12,5% đối với Việt Nam, đồng thời mức thuế toàn cầu 10% theo Điều 122 dự kiến hết hiệu lực trong tháng 7/2026; rủi ro tăng nếu Mỹ áp thuế diện rộng lên hàng hóa Việt Nam hoặc tiếp tục sử dụng công cụ thương mại khác (Điều 201, 232, 338).
Áp lực từ giá nguyên liệu đầu vào: giá bán cá nguyên liệu tăng +3% YTD do giá thức ăn tăng +5%, phản ánh vào biên lợi nhuận gộp giảm -3,3 đpt QoQ; chi phí logistics tăng do phụ phí nhiên liệu và cước container.
Biên lợi nhuận thấp hơn dự báo: biên lợi nhuận gộp Q1/2026 đạt 14,6%, giảm so với dự phóng 2026F (cao hơn -2,5/-3,3 đpt) trong bối cảnh chi phí nguyên liệu đầu vào và logistics gia tăng.
Cạnh tranh giá từ Ấn Độ tại thị trường EU cho mảng collagen; mảng này đóng góp khoảng 900-1.000 tỷ đồng/năm với biên lợi nhuận cao.