Doanh thu Quý 2/2026 đạt 18.847 tỷ đồng (+12,7% YoY), mức cao nhất lịch sử theo quý; lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 3.167 tỷ đồng (+28,0% YoY), tăng gấp đôi doanh thu nhờ biên gộp mở rộng lên 43,5% từ 42,0% cùng kỳ — cao nhất 8 quý gần nhất.
Cả ba trụ cột doanh thu cùng tăng trưởng: nội địa 14.616 tỷ (+6,5%), xuất khẩu 2.664 tỷ (+41,2% với thị trường mới như Trung Đông), công ty thành viên nước ngoài khoảng 1.576 tỷ (+36%, trong đó Angkor Milk +241,7%). Lũy kế 6 tháng lãi 5.596 tỷ (+38,4%), đạt 57,4% kế hoạch năm.
Chi phí bán hàng và quản lý 4.625 tỷ chỉ tăng 10,8% YoY, chậm hơn doanh thu, đưa tỷ trọng xuống 24,5% từ 24,9%; toàn bộ tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi, không có khoản thu nhập bất thường. Bảng cân đối ổn định: tiền ròng 18.049 tỷ (~14% vốn hóa), nợ vay giảm 18% còn 8.455 tỷ, ROE trượt 4 quý 34,5%.
TCBS dự phóng doanh thu 2026 đạt 68.738 tỷ (+8,0%) và LNST cổ đông mẹ 10.167 tỷ (+8,0%), EPS 4.864 đồng/cp, vượt khoảng 3% kế hoạch lợi nhuận 9.828 tỷ với giả định biên gộp 42,0% được giữ suốt giai đoạn 2026–2030.
Lưu ý
Giá sữa bột nguyên liệu nhập khẩu: nếu tăng 3–4% từ mức Quý 2, biên gộp có thể co lại 0,6–1,0 điểm phần trăm, vì nguyên liệu nhập khẩu chiếm ước tính 35–45% giá vốn.
Chi phí vận chuyển quốc tế tăng áp lực lên biên lợi nhuận nửa cuối năm, đặc biệt với xuất khẩu có biên mỏng hơn hàng nội địa.
Tốc độ phục hồi sức mua nội địa chậm lại: doanh thu nội địa Quý 2 chỉ +6,5% so với +20,5% Quý 1 do nền so sánh cao dần; cạnh tranh ngành sữa khốc liệt và sức mua chưa đều.
So sánh khó hơn từ Quý 3 khi nửa cuối 2025 lợi nhuận đã phục hồi mạnh (Quý 4/2025 LNTT 20,4%); dự phóng TCBS cho nửa cuối 2026 chỉ khoảng 4.571 tỷ, thấp hơn ~15% cùng kỳ.
Tỷ giá USD/VND neo cao có thể tác động chi phí nguyên liệu nhập khẩu và lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu.