Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ số 1 ngành ngân hàng: dư nợ tín dụng đạt 1.164.912 tỷ đồng với tăng trưởng 22% YTD, vượt trội so với trung bình ngành nhờ phục hồi cho vay mua nhà, xây dựng tín dụng tiêu dùng và bùng nổ cho vay ký quỹ chứng khoán.
Hệ sinh thái toàn diện đa dạng hóa nguồn thu nhập: với tệp khách hàng 30 triệu người từ tài chính tiêu dùng (FE Credit), chứng khoán (VPBanks), bảo hiểm (OPES), vận chuyển (BE), ngân hàng số (Cake), giúp thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 80% YoY và tối ưu chi phí marketing.
Lợi nhuận sau thuế tăng mạnh 72% YoY lên 8.385 tỷ đồng trong Q2/2026 do thu nhập lãi thuần tăng 33% YoY và hoạt động dịch vụ đột phá; dự báo cả năm 2026 đạt ~33.600 tỷ đồng (+40% YoY).
Cú hích từ tái cơ cấu GPBank mở rộng giới hạn sở hữu nước ngoài, tạo điều kiện chào bán cổ phần cho SMBC hoặc thu hút đối tác mới, tăng cường bộ đệm vốn để vừa tăng trưởng cao vừa trả cổ tức đều đặn.
Lưu ý
Áp lực thanh khoản tăng cao: tỷ lệ LDR lên đến 126%, ngân hàng phụ thuộc vào thị trường tiền, tăng lãi suất huy động làm chi phí vốn tăng và NIM tiếp tục bị thu hẹp.
Thanh khoản bất động sản giảm: giá cao, nguồn cung tập trung phân khúc cao cấp khiến người mua thực khó tiếp cận; VPB có tỷ trọng cho vay BĐS cao (>30% dư nợ) nên khó tăng trưởng tín dụng mạnh.
NIM bình quân giảm xuống mức thấp nhất lịch sử 5,32%: áp lực cạnh tranh gia tăng, lợi suất tài sản sinh lãi (YOEA) giảm, cơ cấu cho vay khách hàng doanh nghiệp tăng.
Nợ xấu tăng cao kỷ lục 38.087 tỷ đồng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức thấp 56,2% cho thấy bộ đệm dự phòng không dồi dào, hạn chế dư địa hoàn nhập dự phòng hỗ trợ lợi nhuận.
Tỷ lệ CASA thấp kỷ lục 11,5% do cạnh tranh gay gắt; FE Credit tăng trưởng chậm (~5%) và tỷ lệ nợ xấu cao 18,65%, là thách thức với công ty con.