NgànhNgân hàngQuan điểmKHẢ QUAN
Ưu tiênMBBVPBBIDVCBTCBHDB
Điểm nhấn- Thông tư 50/2026/TT-NHNN nới trần tỷ lệ LDR từ 85% lên 95% giúp các ngân hàng giải tỏa áp lực thanh khoản, tạo thêm dư địa tín dụng và giảm cạnh tranh huy động, từ đó hỗ trợ chi phí vốn toàn ngành và bảo vệ biên lãi thuần (NIM) - tác động tích cực dài hạn khi ngành chuyển sang khung thanh khoản Basel III với các tiêu chuẩn LCR, NSFR và tỷ lệ đòn bẩy LEV.
- Mức hưởng lợi phân hóa theo từng ngân hàng tùy thuộc vào: (i) áp lực LDR/huy động hiện tại; (ii) nền tảng vốn, thanh khoản và khả năng đáp ứng LCR/NSFR/LEV; (iii) nhu cầu và dư địa tăng trưởng tín dụng. Các ngân hàng có LDR cao, vốn mạnh, CASA tốt và nhu cầu tăng trưởng cao sẽ tận dụng dư địa mới tốt hơn.
- Công thức LDR mới điều chỉnh cả tử số (loại bỏ dư nợ liên ngân hàng) và mẫu số D (bổ sung nguồn vốn nước ngoài, vốn tự có, chênh lệch liên ngân hàng, vốn ủy thác, trái phiếu đủ điều kiện), nhưng hiệu quả dư địa thực tế phụ thuộc cơ cấu tài sản-nguồn vốn riêng từng ngân hàng.
Lưu ý- Dư địa tín dụng thực tế từ nới LDR lên 95% không đồng nghĩa +10 điểm % do phải tuân thủ các ràng buộc CAR, LEV, LCR, NSFR đồng thời.
- Các ngân hàng có danh mục trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) lớn sẽ bị bất lợi do dư nợ này bị trừ khỏi mẫu số D, làm tăng LDR.
- Các ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi KBNN lớn bị bất lợi vì tiền gửi KBNN được tính 20% (thay vì 50% cũ), làm tăng LDR.
- Ngân hàng có vốn ủy thác phát sinh từ khoản ủy thác cho các TCTD/chi nhánh nước ngoài sẽ bị giảm mẫu số D, làm tăng LDR.
- Trọng tâm quản trị thanh khoản chuyển sang LCR, NSFR và LEV theo Basel III có thể tạo thêm ràng buộc về tài sản thanh khoản chất lượng cao và nguồn vốn ổn định, phân hóa theo chất lượng nguồn vốn từng ngân hàng.