NgànhThépQuan điểmKHẢ QUAN
Điểm nhấn- , Tiêu thụ thép nội địa tăng gấp 7 lần trong hai thập kỷ qua (từ ~4–5 triệu tấn/năm năm 2007 lên ~24–25 triệu tấn/năm năm 2025) với CAGR ~10% giai đoạn 2007–2025, sẽ tiếp tục được thúc đẩy bởi mục tiêu tăng trưởng bình quân 14,5%/năm của ngành xây dựng giai đoạn 2026–2030E, cùng với nhu cầu HRC bứt phá +37% YoY trong 6T26.
- Quy hoạch phát triển ngành thép 2026 định vị thép như ngành công nghiệp nền tảng với chiến lược tập trung vào sản phẩm giá trị gia tăng cao, giảm nhập khẩu, tối ưu hóa tài nguyên trong nước và khuyến khích tư nhân—các biện pháp bảo hộ như thuế chống bán phá giá HRC Trung Quốc và hạn chế xuất khẩu quặng sắt sẽ tiếp tục được ưu tiên trong ít nhất 5 năm tới.
- HRC còn dư địa tăng trưởng rộng mở so với thép thanh (dư cung), với công suất nội địa ~15 triệu tấn/năm (HPG + FHS) so với nhu cầu 12–14 triệu tấn; các biện pháp phòng vệ tạo vùng đệm giá ~25% cho hàng nội địa trước nhập khẩu.
- HPG sở hữu lợi thế cấu trúc bền vững: chi phí đầu tư Dung Quất II thấp (~600 USD/tấn) so với FHS (~1.500 USD/tấn), chủ động nguồn cung quặng sắt nội địa (nắm 40% Công ty Khai thác Kim loại Thủ Đô qua công ty con, với >73 triệu tấn trữ lượng cấp phép), giúp kiểm soát chi phí đầu vào tốt hơn khi cạnh tranh về chi phí trở thành yếu tố quyết định.
Lưu ý- Áp lực nhập khẩu vẫn đa dạng hóa: lượng thép Trung Quốc giảm -13% YoY nhưng vẫn chiếm 49% tổng nhập khẩu (~4 triệu tấn 6T26); thép từ Ấn Độ tăng gấp ~10 lần YoY đạt 777K tấn, phản ánh các phân khúc sản phẩm nguồn cung nội địa hạn chế
- Dư cung thép thanh (~20 triệu tấn/năm công suất so với nhu cầu 11–13 triệu tấn) hạn chế dư địa mở rộng công suất nhưng tiềm ẩn áp lực cạnh tranh và biến động giá trên phân khúc này
- Cấu trúc thị trường HRC tập trung vào hai doanh nghiệp (HPG, FHS) với tổng công suất ~15 triệu tấn/năm có thể tiềm ẩn rủi ro quy định hoặc chính sách chống độc quyền trong tương lai