Lợi nhuận năm 2026 dự kiến tăng mạnh 68% YoY nhờ KQKD cốt lõi cải thiện và khoản lãi một lần từ thoái vốn BĐS (đạt khoảng 4 nghìn tỷ đồng trong quý 1/2026), đồng thời LNST sau lợi ích CĐTS mảng thép được nâng dự báo 18% do sản lượng thép xây dựng vượt kỳ vọng (tăng từ 12% lên 16%) nhờ chi tiêu hạ tầng công tư mạnh hơn dự kiến và ASP nâng lên +11% do đợt tăng giá thép cao hơn kỳ vọng.
Biên lợi nhuận ngành thép dự kỳ mở rộng trong năm 2026 nhờ giá nguyên liệu đầu vào duy trì ở mức thấp (quặng sắt từ dự án Simandou bổ sung cung, than cốc tăng 24% nhưng vẫn khả quan cả năm do tăng cung từ Úc), trong khi giá thép phục hồi dần do Trung Quốc cắt giảm công suất chống cạnh tranh tiêu cực, kiểm soát xuất khẩu chặt chẽ hơn, và ASP Việt Nam tăng +13% YTD vượt trội Trung Quốc.
Triển vọng trung hạn được hỗ trợ bởi các dự án nâng công suất mới: DQSC2-HQWR thêm 500 nghìn tấn (dự kiến vận hành quý 2/2028) và nhà máy thép đường sắt & kết cấu 700 nghìn tấn/năm (dự kiến quý 1/2027), qua đó nâng EPS cốt lõi CAGR giai đoạn 2025–2028 đạt 29% và P/E cốt lõi năm 2026 hấp dẫn ở mức 9,7 lần so với trung bình 10 năm 10,5 lần.
Tại giá mục tiêu 38.900 đồng, doanh thu dự kiến 209,2 nghìn tỷ đồng (tăng 34%), LNST sau lợi ích CĐTS 25,9 nghìn tỷ đồng (tăng 68%), và ROE cốt lõi đạt 15,4% phản ánh tiềm năng tăng trưởng mạnh và sinh lời tốt trong giai đoạn 2026–2028.
Lưu ý
Giá thép tăng yếu hơn kỳ vọng do nhu cầu xây dựng suy yếu, tác động tiêu cực từ căng thẳng địa chính trị hay nhu cầu Trung Quốc ảm đạm kéo dài.
Gián đoạn nguồn cung dầu hay gián đoạn khác (ví dụ eo biển Hormuz) làm suy yếu hoạt động xây dựng và nhu cầu thép.
Chi phí lãi vay cao hơn kỳ vọng do mặt bằng lãi suất trung bình còn tăng; chi phí vận chuyển tiếp tục ở mức cao do kéo dài tình trạng xung đột Trung Đông.
Rủi ro từ tăng giá nguyên liệu đầu vào nhanh hơn giá đầu ra, hoặc nhu cầu cạnh tranh gay gắt từ các nhà sản xuất khác.