Sản lượng điện tăng mạnh 54% svck lên 1.195 triệu kWh trong Q2/2026; LNST-MI đạt 403 tỷ đồng (+23,5% svck). Trong 6T/2026, kết quả đạt mức cao nhất trong 10 kỳ bán niên gần đây với DTT 4.996 tỷ đồng (+42,4% svck) và LNST-MI 583 tỷ đồng (+60,5% svck), vượt 35,6% kế hoạch LNST năm 2026.
Triển vọng lợi nhuận 2026 khả quan: nhu cầu tiêu thụ điện tăng từ tăng trưởng kinh tế (GDP +11,9% trong 6T cuối năm 2026); El Nino dự báo quay trở lại giúp tăng huy động nhiệt điện; chi phí khấu hao giảm đáng kể do MMTB hết khấu hao từ 2026 (so với 405,6 tỷ năm 2025).
Tình hình tài chính lành mạnh: tiền dồi dào 4.727 tỷ đồng (+25,1%), dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cải thiện 834,6 tỷ đồng (+151,7% svck); nợ vay giảm, D/E chỉ 0,31 lần; duy trì chính sách cổ tức tiền 7-15%/năm.
Lợi thế cạnh tranh: đã hết khấu hao giúp biên lợi nhuận tốt hơn so với nhiều nhà máy điện khí khác; tiếp cận khí nội địa từ PV GAS và đang đàm phán khí LNG nhập khẩu; khung giá điện 2026 tăng +11,1% (0-3.410,64 đ/kWh) mở rộng dư địa đàm phán giá bán.
Lưu ý
Giá bán điện bình quân (ASP) giảm: 2.363 đ/kWh (-11,9% svck) trong Q2/2026 và 2.334 đ/kWh (-8,9% svck) trong 6T/2026
Giá khí đầu vào tăng: 9,56 USD/mmBTU trong Q2/2026 (+0,5% svck) và 9,98 USD/mmBTU trong 6T/2026 (+4,4% svck), lên trên 10,4 USD/mmBTU từ tháng 3-5 do căng thẳng chiến sự Mỹ-Iran
Chi phí hoạt động tăng: chi phí QLDN tăng 26 tỷ (+23,2% svck), chi phí lãi vay tăng 22 tỷ (+21,7% svck) trong Q2/2026
Chi phí thuế TNDN tăng mạnh: từ năm 2026 suất thuế TNDN tăng từ 10% lên 20%, trong 6T/2026 đã tăng lên 144 tỷ (+219,6% svck)
Rủi ro nguồn khí đầu vào: khí tự nhiên trong nước tiếp tục suy giảm; PV GAS kết thúc hợp đồng cung khí cho Phú Mỹ 2.2; phương án sử dụng khí LNG nhập khẩu vẫn đang đàm phán chưa được triển khai