Kết quả kinh doanh Q1/2026 khởi sắc với doanh thu thuần đạt 2,1 nghìn tỷ đồng (+52% YoY) và lợi nhuận sau thuế tăng mạnh đạt 180 tỷ đồng (+387% YoY), hỗ trợ bởi sản lượng huyệp động cao đạt 897 triệu kWh (+43% YoY) và sản lượng tổng đạt khoảng 945 triệu kWh vượt 40% so với kế hoạch.
Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng phục hồi rõ rệt lần lượt đạt 10% và 8% so với mức đáy 3% của Q1/2025, nhờ sản lượng huyệp động tăng mạnh, chi phí khấu hao giảm 78% so cùng kỳ (giảm 133 tỷ đồng), và giá khí đầu vào bình quân ở mức 9,185 USD/MMBtu.
Nguồn cung khí dài hạn được cứng cổ từ quý 4/2026 với bổ sung 7,43 tỷ m³ từ dự án Thiên Ngà Hải Âu và khoảng 20 tỷ m³ từ Sư Từ Trắng giai đoạn 2, đảm bảo cung cấp ổn định cho NT2 suốt vòng đời dự án (2026-2036).
NT2 duy trì lợi thế chi phí nhất định với giá khí đầu vào thấp hơn khoảng 22% so với Nhơn Trạch 3&4 nhờ sử dụng nguồn cung khí trong nước rẻ hơn, đồng thời hưởng ưu đãi thuế suất TNDN 10%, và P/E hiện tại 5,23 lần thấp hơn trung bình ngành 12,61 lần.
Lưu ý
Cạnh tranh trực tiếp từ các dự án điện khí mới Nhơn Trạch 3&4 với công nghệ hiện đại hơn, phát thải thấp, có thể được ưu tiên huyệp động khi nhu cầu điện hạnh hiệu.
Giá khí đầu vào tăng cao là một trong những khó khăn sản xuất kinh doanh tiếp tục kéo dài sang năm 2026, khiến giá vốn của NT2 duy trì ở mức cao hơn đáng kể so với các nguồn điện khác (gấp khoảng 4 lần so với thuỷ điện và khoảng 1,3 lần so với điện than).
Rủi ro thuỷ văn và biến động sản lượng huyệp động theo tình hình vụ mưa.
Rủi ro tỷ giá USD có thể khiến biên lợi nhuận thụ hẹp do chi phí đầu vào gắn liền với giá khí quốc tế.
Lợi nhuận biến động theo sản lượng hợp đồng Qc và yếu tố mùa vụ.